Kinh vô lượng thọ

Kinh vô lượng thọ

 Lời Tựa

Giáo lý Ðấng Thế Tôn trải qua 2.516 năm đến nay vẫn còn có công năng thù thắng siêu việt, đánh bạt nghiệp chướng phiền não cứu thoát chúng sinh khỏi trầm luân trong vũng lầy sinh tử. Ðối với người con Phật chân chính, thành tâm cầu Ðạo giải thoát, lời châu ngọc của Ngài quả thật là một môn diệu được. Kinh điển qua những lần kết tập rồi lưu truyền đến bây giờ đã hướng dẫn tâm thức con người vươn lên cảnh giới trang nghiêm, thanh tịnh, gột sạch tội cấu, ái nhiễm của cõi đời ô trọc hung hãn này.

Muốn đạt tới cảnh giới an vui giải thoát, điều kiện tiên quyết là phải lắng được tâm, gạn được ý như lời Phật thuyết: “Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh". (Tâm mình an tịnh thì cõi Phật hiện ra). Hiểu được như vậy hành giả tự thân rực rỡ quang minh và sẽ thấy cõi trang nghiêm của Phật. Sự kiện lắng được tâm, gạn được ý này nằm trong pháp môn Tịnh Ðộ mà Ðấng Thế Tôn đã chúc lũy cho chúng sinh trong đời mạt pháp qua các yếu kinh: Kinh Bi Hoa, Kinh A Di Ðà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ.

Những Kinh giáo này nhằm tạo duyên khởi từ bi, trí tuệ cho người biết hồi tâm phục thiện, ngõ hầu thăng hoa cuộc sống cao đẹp trong thế giới đảo điên, mê muội. Hành giả, gột sạch trần cấu bằng cách thanh lọc tâm, làm tiêu ma nghiệp chướng được xem là nguyên động lực giao lưu qua cõi nước Cực Lạc, quốc độ của giải thoát thanh tịnh, trang nghiêm. Ðó chính là miếng đất tâm rơi những phấn thông vàng. Hành giả có thể mường tượng lời kinh huyền diệu hòa theo năm tháng lắng sâu vào tâm thức hữu tình để sinh thành quả phúc uy nghiêm, cao cả. Quý hóa thay! Kinh giáo của Pháp Môn Tịnh Ðộ.

  • Kinh A Di Ðà quảng diễn cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của cõi nước Cực Lạc.

  • Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Bi Hoa xuất sinh từ công năng tu tập của Ngài Pháp Tạng Tỉ Khưu, ngộ nhập cảnh giới Cực Lạc phát khởi trí tuệ khi hành trì.

  • Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy các pháp tu quán tưởng Ðức Phật Vô Lượng Thọ làm cơ duyên ứng hợp với cỏi nước Cực Lạc. Chung quy, Pháp Môn Tịnh Ðộ cốt lấy: "Niệm giác bất tư nghị làm thể". Bởi thế, nếu một niệm không móng lên thì đó là cái toàn nhất của con người thể nhập vào tự tánh nhiệm mầu. Ở đây, Tịnh Ðộ đã hòa nhập với Thiền là một. Hành giả không nên cố chấp, phân biệt Tịnh Ðộ hay Thiền. Vì lẽ cả hai (Thiền, Tịnh Ðộ) đều đưa hành giả đến cảnh giới bát ngát của hạnh Phật thừa. Tuy nhiên, Thiền đối với hạng hạ căn thật khó hành trì, bởi lẽ Thiền là nhiếp tất cả tâm trí vào cái thấy hiện tiền để trí tuệ quán chiếu và bao trùm tất cả trong một cái thấy toàn diện, nhất như. Lộ trình này quả thật là khó khăn nên chỉ dành cho những bậc Thượng căn, Thượng trí, mới đủ khả năng tư duy quán niệm. Nhận thấy phần đông Phật tử đang trên đường tập tu nên Pháp Môn Tịnh Ðộ dễ dàng dung hợp với tất cả, mọi căn cơ đều có thể thực hành được. Hành giả, khi hành trì Pháp Môn Tịnh Ðộ đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn, ấy là Thiền rồi vậy. Bởi lẽ, Thiền hay Tinh Ðộ đều đi đến mục đích chung là minh tâm kiến tánh. Phật tử phải nhận thức rằng: "Tiềm năng diệu dụng của công đức thụ trì Kinh là Bất tư nghì". Có thể hiểu được ý chỉ thâm diệu này thì lúc trì Kinh Vô Lượng Thọ mới cảm nhận được 48 đại nguyện hóa độ chúng sinh nhập cảnh giới an vui giải thoát của Ngài Tỉ Khưu Pháp Tạng mà Ðấng Thế Tôn đã thuyết giáo và chúc lũy cho các chúng Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn tại núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá thật là vô cùng diệu dụng.

Kinh Vô Lượng Thọ gồm có 4 phần chính yếu như sau:

1). Do cơ duyên Ðại giác khởi lên và chư cổ Phật xuất hiện nơi núi Kỳ Xà Quật – Ðức Phật nhân đó, thuyết Kinh Vô Lượng Thọ.

2). Nhân duyên Ngài Tỉ Khưu Pháp Tạng phát 48 đại nguyện trước Ðấng Thế Tôn và nhờ công đức tu tập thù thắng, đức hạnh thâm mật Ngài thành tựu Pháp thân hiệu A Di Ðà, thể hiện cảnh giới như tâm nguyện và ngự trị cõi nước tên là Cực Lạc ở phương Tây.

3). Cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của cõi nước Cực Lạc gồm: Quang minh vô lượng, Thọ mệnh vô lượng và Thánh chúng vô lượng, cộng vào đó là đường sá, lầu gác, ao thất bảo, lại đủ các loại chim tiếng hót trong trẻo, cỏ hoa tươi nhuận, phô bày muôn sắc, phảng phất hương thơm. Lại có, từ những cánh sen hồng tự nhiên thai sanh Thánh chúng, diện mạo sáng ngời, đoan chính mà Nhật Nguyệt không thể sánh bằng. Lại có, y phục tốt, thức ăn sang, tự nhiên hóa thành do tâm niệm. Tất cả đều sang trọng quý báu vô cùng.

4). Những duyên khởi mầu nhiệm của trí tuệ trong cõi nước Cực Lạc và công đức tu tập tinh tấn đem lại lợi ích giải thoát tuyệt vời cho hành giả chân chính nhuần nhuyễn trì tụng, quán xét minh mẫn và tâm không còn ô nhiễm.

Tôi nhận thấy, Kinh Vô Lượng Thọ có nhiều nghĩa lý thâm diệu, triển khai trí tuệ quang minh và công đức trì tụng kinh nầy thật là diệu dụng, xuất phát từ bản tâm thanh tịnh. Cũng bởi giá trị cao thâm đó, tôi đã tha thiết trong việc lưu truyền nên thành tâm phiên dịch bản Kinh này từ Nho văn của Ngài Khang Tăng Khải đời Tào Ngụy ra Việt ngữ để quý Phật tử thường tụng hàng ngày hoặc trong các khóa lễ cầu siêu.

Dịch Kinh này, chúng tôi chỉ có một tâm nguyện mong mọi người dứt bỏ tà kiến, mê chấp, xem các pháp là như huyễn như hóa, đồng thời cùng nhau tinh tiến thực hành thiện pháp ngõ hầu đem lại lợi lạc an vui giải thoát cho kẻ còn, người mất.

NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT

TÁC ÐẠI CHỨNG MINH.

Sài Thành, Mùa hạ năm Canh Tuất 1970

Sa môn THÍCH TUỆ ÐĂNG cẩn chí.

--o0o--

Lời Bạt

Sống giữa hệ lụy trần gian đầy dẫy ma chướng; giáo lý của Ðấng Thế Tôn vẫn đủ khả năng thù thắng siêu việt – bạt nghiệp chướng xóa phiền não trong đời sống của người thành tâm cầu đạo giải thoát. Giáo lý mãi mãi vẫn là nguồn năng lực phấn đấu, sinh động tiềm tàng trong bốn mươi tám ngàn pháp môn, trong Tam Tạng kinh điển, châu liên ngọc kết. – Nâng nhẹ những tâm hồn, khai sáng những trí tuệ ở hầu hết các trình độ, giai cấp dân gian chỉ có pháp môn Tịnh Ðộ là được phổ cập nhất.

Kinh điển căn bản kết tập l?i châu ngọc của Ðấng Thế Tôn đầy đủ nghĩa lý chân thật khiến tâm thức con người đạt tới cảnh giới trang nghiêm, thanh tịnh, thấy cõi Phật sinh động hữu tình trước mắt mà khởi sinh trí tuệ từ bi chính là Kinh Vô Lượng Thọ.

Lời châu ngọc Thế Tôn chúc lũy cho chúng sinh ở thời kỳ mạt pháp trong Kinh Vô Lượng Thọ đã diễn đạt công năng tu tập của Ngài Tỉ Khưu Pháp Tạng (chính là hiện thân của Ðức Phật A Di Ðà với 48 đại nguyện hóa độ chúng sinh vào những cảnh giới an vui, giải thoát; đã thể hiện thật rõ ràng chất nhân bản vượt thoát sự vây bủa của các ngẫu kiện phi lý, gột sạch ái nhiễm trần cấu bằng tâm thanh tịnh và trí quán xét minh mẫn nhằm hướng dẫn tâm thức tham đắm mộng huyễn trở về bản chân thanh tịnh, phá lưới vô minh và thực hiện cảnh giới như tâm nguyện.

Vì lợi ích diệu dụng của Kinh Vô Lượng Thọ đối với người Phật tử chân chính trong cuộc sống hiện tại. Hòa Thượng Thích Tuệ Ðăng đã tận tâm phiên dịch từ bản Nho văn của Ngài Khang Tăng Khải ra Việt Ngữ, nhằm triển khai nghĩa lý vi diệu, duyên khởi trí tuệ quang minh và đức hạnh thâm mật cho hành giả trong việc trì tụng kinh này.

Tôi nhận thấy sự hoan hỷ lạ lùng phấn chấn trong tâm hồn mình sau khi đọc toàn bộ kinh Vô Lượng Thọ mà Hòa Thượng đã trao cho tôi (Niềm giao cảm thanh thoát này có chăng là do sự cố gắng chuyển ngữ của Hòa Thượng) vì không có phương tiện ấn tống (hành) nên Hòa Thượng đã yêu cầu tôi phổ biến đến quảng đại Phật tử, nhằm khuyến hóa sự tu dưỡng tâm thức và bổ sung kinh điển trong phương trượng của thập phương đáp ứng như cầu hoằng pháp trong hoàn cảnh hiện tại.

Tôi mong cầu và hy vọng quý vị cũng sẽ phát tâm khuyến hóa góp phần công đức ấn tống và phổ biến kinh Vô Lượng Thọ, khai thông sâu rộng hơn nguồn nước Từ Bi đến những tâm hồn khao khát cuối cùng.

Nam mô A Di Ðà Phật

Tác đại chứng minh:

Sa môn Thích Minh Phát

 

 

---o0o---

Nghi Thức Lễ Tụng

--o0o--

Lễ Tam Bảo

Hết thảy cung kính,

Nhất tâm đỉnh lễ Tam Bảo thường trụ khắp Pháp giới mười phuơng. (3 lễ)

Nguyện Hương

(Quỳ chấp tay đọc)

Nguyện hương này như mây

Bay tỏa khắp mười phương

Trong vô biên cõi Phật

Hóa vô số diệu hương

Năm thứ hương thơm ngát

Trang nghiêm để cúng dường

Trọn đủ Bồ Tát Ðạo

Thành tựu Như Lai hương

(vừa lễ vừa đọc)

Cúng dường rồi, hết thảy cung kính,

Nhất tâm đỉnh lễ Tam Bảo thường trụ khắp Pháp giới mười phương. (1 lễ)

Tán Phật

(Ðứng chấp tay đọc)

Sắc thân Như Lai đẹp

Thế gian không ai bằng

Chẳng sánh, chẳng nghĩ bàn

Nên nay con đảnh lễ

Tướng Phật đẹp vô cùng

Trí tuệ Phật cũng thế

Tất cả Pháp thường trụ

Vì thế con quy y

Trí lớn nguyện lực lớn

Ðộ khắp cả quần sinh

Khiến bỏ thân nóng khổ

Sinh sang nước mát vui

Nay con sạch ba nghiệp

Quy y và lễ tán

Nguyện con cùng chúng sinh

Ðồng sinh về Tịnh Ðộ.

Úm phạ nhật la vật (3 lần)

Cửu Bái Tây Phương

(Vừa lễ vừa đọc)

Nhất tâm đảnh lễ, Phật A Di Ðà, Thân diệu pháp thanh tịnh, ở cõi Thường tịch quang, cùng khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Phật A Di Ðà, Thân tướng hải vi trần, ở cõi Thật báo trang nghiêm, cùng khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Phật A Di Ðà, Thân tướng nghiêm giải thoát, ở cõi Phương tiện thánh cư, cùng khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Phật A Di Ðà, Thân căn giới đại thừa, ở cõi An Lạc phương Tây, cùng khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Phật A Di Ðà, Thân hóa vãng thập phương, ở cõi An Lạc phương Tây, cùng khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Ba kinh Giáo, Hành, Lý, tuyên dương cả Yø, Chính, ở cõi An Lạc phương Tây, cùng khắp Pháp giới Tôn Pháp. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Bồ Tát Quán Thế AÂm, Thân tử kim muôn sắc, ở cõi An Lạc phương Tây, cùng khắp Pháp giới Bồ Tát. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Bồ Tát Ðại Thế Chí, Thân quang trí vô biên, ở cõi An Lạc phương Tây, cùng khắp Pháp giới Bồ Tát. (1 lễ).

Nhất tâm đảnh lễ, Thánh chúng trong Hải hội Thanh tịnh, Thân nhị nghiêm mãn phận, ở cõi An Lạc phương Tây, cùng khắp Pháp giới Thánh chúng (1 lễ).

Nay con vì khắp cả bốn ân, ba cõi pháp giới chúng sinh, nguyện dứt bỏ hết ba chướng, quy mệnh sám hối. (1 lễ)

 

Sám Hối

(Quỳ chấp tay đọc)

Ðệ tử chúng con là: ......... (hoặc kỳ vì hương linh là: ...... ) xin chí tâm Sám hối:

Ðệ tử con là: ......... và chúng sinh trong Pháp giới, từ đời vô thủy đến nay, bị vô minh che lấp, dáo dở mê lầm. Lại do sáu căn ba nghiệp, tập theo pháp chẳng lành, gây ra nhiều tội trong mười điều dữ, năm tội vô gián và tất cả tội khác, vô số vô biên, nói không thể hết. Mười phương các Ðức Phật, thường ở trong đời, tiếng Pháp không dứt, hương báu đầy ắp, vị Pháp ngập tràn, buông ánh sáng sạch, soi thấu tất cả, lý nhiệm thường trụ, đầy khắp hư không.

Con từ vô thủy đến nay, sáu căn mù mịt, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy chẳng nghe, chẳng hay chẳng biết. Vì nhân duyên ấy, trôi mãi trong vòng sinh tử, trải qua các nẻo luân hồi, trăm ngàn muôn kiếp, không hẹn ngày ra. Trong Kinh nói rằng: "Ðức Tì Lư Giá Na, hiện thân khắp cả chỗ, chỗ của Ðức Phật ở, gọi là Thường Tịch Quang; vậy nên phải biết, tất cả các Pháp, đều là Phật Pháp. Song con chẳng rõ, lại theo giòng vô minh; thế nên ở trong trí giác ngộ, mà chẳng thấy thanh tịnh, ở trong cảnh giải thoát mà dấy lên ràng buộc. Nay mới thức tỉnh, nay mới đổi bỏ. Cung kính đối trước chư Phật và Ðức Di Ðà Thế Tôn, tỏ bày Sám hối; cầu xin cho con cùng pháp giới chúng sinh, tất cả tội nặng, do ba nghiệp sáu căn, từ đời vô thủy, hoặc đời hiện tại, hay đời vị lai gây nên; hoặc chính mình gây, hay sai người khác gây; hoặc thấy, nghe, người gây mà mình vui theo; hoặc nhớ, hay chẳng nhớ; hoặc biết, hay chẳng biết; hoặc nghi, hay chẳng nghi; hoặc che giấu, hay chẳng che giấu; đều xin được trong sạch hết cả.

Con Sám hối rồi, sáu căn ba nghiệp, sạch không lầm lỗi, căn lành tu được, cũng đều trong sạch, hết để hồi hướng, trang nghiêm Tịnh Ðộ; khắp cùng chúng sinh, đồng sinh về nước Cực Lạc.

Nguyện xin Ðức Phật A Di Ðà, thường lai hộ trì, khiến căn lành con hiện tiền thêm lên, chẳng mất nhân tốt; tới giờ mệnh chung, thân an niệm chính, trông, nghe rõ ràng; trước mặt thấy Ðức A Di Ðà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa, tiếp dẫn độ con, chỉ trong giây phút, sinh ở trước Phật, trọn đạo Bồ Tát, độ khắp chúng sinh, đồng thành Phật đạo. (Vừa lễ vừa đọc)

Sám hối, phát nguyện rồi,

Quy mệnh kính lễ Ðức Phật A Di Ðà cùng hết thảy Tam Bảo. (1 lễ)

Tán Hương

(Ngồi kiết già tụng)

Lư hương vừa bén chiên đàn

Khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương

Hiện thành mây báu cát tường

Chư Phật thấy biết ngọn hương chí thiềng.

Pháp thân toàn thể hiện tiền

Chứng minh hương nguyện phúc liền ban cho.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

Chú Sạch Khẩu Nghiệp

Tu lị tu lị, ma ha tu lị, tu tu lị, tát bà ha (3 lần)

Chú Sạch Thân Nghiệp

Tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị, sa bà ha (3 lần)

Chú Sạch Ba Nghiệp

Án, sa phạ bà phạ, truật đà sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)

Chú Yên Thổ Ðịa

Nam mô tam mãn đá một đà nẫm, án, độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha (3 lần)

Chú Phổ Cúng Dường

Án, nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhật la hộc (3 lần)

Kệ Khai Kinh

Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu,

Nghìn muôn ức kiếp dễ hay đâu.

Con nay nghe thấy, xin trì tụng,

Nguyện tỏ Như Lai nghĩa thật sâu.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

---o0o---

 Kinh Vô Lượng Thọ
Hán dịch: Pháp Sư Khang Tăng Khải
Việt dịch: Sa Môn Thích Tuệ Ðăng
---o0o---
Phật Nói
Kinh Vô Lượng Thọ
Quyển Thượng
 
Tôi nghe như vầy: Một thời, Ðức Phật trụ trong núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, cùng với một vạn hai ngàn vị Ðại Tỉ Khưu. Những vị đó đều là bậc Ðại Thánh đã đạt được phép thần thông. Các vị ấy tên là: Tôn giả Liễu Bản Tế, Tôn giả Chính Nguyện, Tôn giả Chính Ngữ, Tôn giả Ðại Hiệu, Tôn giả Nhân Hiền, Tôn giả Ly Cấu, Tôn giả Danh Văn, Tôn giả Thiện Thật, Tôn giả Cụ Túc, Tôn giả Ngưu Vương, Tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Tôn giả Già Da Ca Diếp, Tôn giả Na Ðề Ca Diếp, Tôn giả Ma Ha Ca Diếp, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên, Tôn giả Kiếp Tân Na, Tôn giả Ðại Trụ, Tôn giả Ðại Tịnh Chí, Tôn giả Ma Ha Chu Na, Tôn giả Mãn Nguyện Tử, Tôn giả Ly Chướng, Tôn giả Lưu Quán, Tôn giả Kiên Phục, Tôn giả Diện Vương, Tôn giả Dị Thừa, Tôn giả Nhân Tính, Tôn giả Gia Lạc, Tôn giả Thiện Lai, Tôn giả La Vân, Tôn giả A Nan. Các vị trên đây đều là những bậc Thượng Thủ.
Lại cùng với các chúng Ðại thặng Bồ Tát trong kiếp hiện tại là: Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Ðức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát. Lại có mười sáu vị chính sĩ thuộc nhóm tại gia Bồ Tát là: Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Tuệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Tuệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Tuệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, tất cả đều tuân theo giới đức của Ngài Ðại Sĩ Phổ Hiền.
Ðức Phật có vô lượng hạnh nguyện của các Bồ Tát, an trụ vào các pháp, công đức trọn đầy, rồi dạo bước khắp mười phương, tùy theo phương tiện cứu độ chúng sanh, khiến cho tất cả qua khỏi đường sinh tử, vào được Pháp tạng của chư Phật.
Lại nguyện ở trong vô lượng thế giới hiện thành Phật quả. Bấy giờ, Ngài ở cung Trời Ðâu Suất, vì muốn nói rộng chính pháp, nên từ cung Trời ấy, giáng thần vào thai mẹ. Từ nách bên phải sinh ra, rồi đứng dậy hiện ra đi bảy bước; hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương, vô lượng cõi Phật, chấn động sáu cách. Trong giờ phút thiêng liêng này, một tay chỉ lên Trời, một tay chỉ xuống đất, Ngài cất tiếng tự xưng rằng: "Ta sẽ là Phật trên hết trong đời". Lúc ấy, hai vị Vua Ðế Thích và Phạm Thiên đến hầu, khiến cả Trời và Người đều cung kính tin theo.
Ngài lại hiện ra học đủ các nghề: thi văn, lý, toán, bắn cung, cỡi ngựa; tập r?ng thêm các môn võ thuật, đọc hết những pho sách sử. Có lần Ngài ung dung dạo bước vườn sau, diễn võ thi tài.
Ngài lại biến hiện ra cung điện cực kỳ lộng lẫy, trong đó có sắc đẹp diễm kiều, cùng cao lương mỹ vị. Lại một hôm, Ngài ra chơi ngoại thành, nhìn thấy người già, người bệnh, người chết; nhìn thấy cảnh tượng đó, Ngài nhận biết được cõi đời là vô thường, nên quyết lìa ngôi báu, thần dân, quyến thuộc, tiền của, quyền quý cao sang, vào núi học đạo. Ngài cởi bỏ áo ngọc mũ châu quý báu, mặc áo nhà tu, cạo bỏ râu tóc, ngồi dưới gốc cây, siếng tu khổ hạnh, suốt sáu năm trường, y theo chính đạo, thực hành thiện pháp. Ngài lại hiện ra trong cõi đời ngũ trọc, thuận theo chúng sinh, cấu trần ô nghiễm tắm gội ở sông Ni Liên. Bấy giờ, Chư Thiên giữ cành cây, Ngài vin lấy cành mà ra khỏi ao, liền có loài chim thiêng theo hầu Ngài tới nơi Ðạo tràng. Ðiềm lành cảm nghiệm, nêu rõ công phúc, thương nhận cỏ cúng dường, trải dưới cây Bồ Ðề, ngồi xếp hai bàn chân lên đùi, nhập thiền định, phóng ra hào quang sáng lớn, khiến Ma vương biết được, chúng liền kéo cả họ hàng, bè lũ đến mà thử thách tâm ý của Ngài. Ngài dùng trí lực giải trị, khiến chúng phải kinh sợ hàng phục. Chính nơi cội Bồ Ðề Ðạo Tràng, Ngài chứng ngộ thành Bậc Ðại Giác.
Bấy giờ, Vua Ðế Thích và Phạm Vương thỉnh cầu Ngài chuyển Pháp luân. Ngài chấp nhận rồi rời Ðạo Tràng, du phương thuyết Pháp, đánh trống Pháp, thổi loa Pháp, cầm gươm Pháp, dựng cờ Pháp, dậy sấm Pháp, lóe chớp Pháp, tưới mưa Pháp, nói thí Pháp và thường đem tiếng Pháp cảnh tỉnh thế gian. Ngài phóng hào quang soi khắp vô lượng cõi Phật. Tất cả các thế giới chấn động sáu cách, thâu tóm cả cõi ma, làm rung động cung điện của ma vương, khiến chúng ma vương sợ hãi, đều quy phục cả. Ngài xé rách các lưới tà, tiêu diệt mọi thành kiến, đánh tan những phiền não, lấp đầy mọi vực sâu ái dục, gạn sạch tâm ý, giữ trọn Pháp thân, khai nguồn trí tuệ, rửa sạch tâm nhơ xấu, làm sáng đức thanh tịnh, truyền bá chính giáo, hóa độ chúng sinh, khiến tất cả đều được thấm nhuần công đức, phước báu lợi lạc.
Ngài lại đem pháp dược mầu nhiệm, cứu chữa ba nỗi khổ của chúng sinh: một là làm việc cực nhọc sinh khổ, hai là hết vui đến buồn sinh khổ, ba là các pháp vô thường sinh khổ. Ngài lại hiển hiện vô lượng công đức, thụ ký cho các Bồ Tát thành bậc Chính Ðẳng Chính Giác. Lại hiện ra cảnh giới sinh tử, hầu cứu chúng sinh diệt trừ phiền não, vun trồng cội phúc, trọn đủ công đức, mầu nhiệm vô cùng.
Ngài lại đến các nước Phật, hiển bày giáo pháp bằng các việc đã tu hành, trong sạch không nhơ nhuốm. Ví như nhà huyễn thuật đã học tập thông suốt, rồi tùy theo ý muốn, hiện ra các tướng lạ như: Hiện làm đàn ông, hiện làm đàn bà v.v... không gì không hiện được.
Các vị Bồ Tát ở đây cũng giống như thế, các Ngài học hết các Pháp, quán thông kinh điển, thâu tóm sự lý, xét cùng nghĩa nhiệm, thấy biết xác thực. Rồi ở trong vô số cõi Phật đều hiện ra trọn đủ các Pháp như thế, chỉ dẫn cho mười phương chúng sinh, vô lượng chúng sinh đều cùng hộ niệm. Cảnh giới chư Phật an trụ, Bồ Tát đều trụ trong đó; Ð?i Thánh tọa nơi nào, đều có Bồ Tát tọa nơi đó. Giáo pháp của Ðức Như Lai thuyết giảng Bồ Tát đều tuyên dương một cách rốt ráo, là bậc Ðại sư cho các hàng Bồ Tát, các Ngài đem thiền định, trí tuệ thâm diệu chỉ bày cho chúng sinh đời mạt pháp thông hiểu các pháp tính, thấy rõ các pháp tướng và thấu suốt các cõi để cúng dường chư Phật. Lại hóa hiện thân hình lẹ như chớp nhoáng, biến hiện lưới vô úy, hiểu suốt mọi pháp huyễn hóa, xé rách lưới ma, cởi mọi ràng buộc; vượt qua địa vị Thanh Văn, Duyên Giác, được phép tam muội: Không, vô tướng, vô nguyện. Các Ngài khéo lập phương tiện, chỉ rõ ba thừa: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Sau khi giáo hóa đã xong, không còn sở hữu, các Ngài lại hiện ra có sinh tử, chứ thực ra các pháp cũng không vật gì thấy có, chẳng sinh, chẳng diệt, tất cả đều bình đẳng, thành diệu pháp vô lượng tổng trì bách thiên tam muội. Các căn trí tuệ, yên lặng vô cùng, vào sâu tới Pháp tạng của Bồ Tát, được Pháp Hoa Nghiêm tam muội của Phật, tuyên dương giảng nghĩa hết thảy Kinh điển mà vẫn trụ vào phép định sâu xa mầu nhiệm, thấy tất cả chư Phật hiện tại, trong một giây phút hiện ra khắp nơi, cứu giúp muôn loài, chịu nhiều khổ não, phân biệt chỉ rõ chân thật, được trí biện tài của các Ðức Như Lai, rồi thể nhập tiếng nói của chúng sinh, khai hóa cho hết thảy, vượt qua các pháp sở hữu của thế gian, kiên tâm giữ đạo cứu đời. Ð?i với hết thảy chúng sinh, các Ngài tùy ý tự tại, lấy việc cứu giúp chúng sinh làm trách nhiệm nặng nề, giữ gìn Pháp tạng của chư Phật, khiến cho thường còn chẳng mất. Lại khởi lòng đại bi thương xót chúng sinh, diễn lời đại từ, trao con mắt Pháp, ngăn ba chốn dữ, mở cửa Bồ Ðế, lại đem pháp không ai cầu thỉnh mà thí hóa cho chúng dân như người con trọn hiếu, kính thương cha mẹ, đối với chúng sinh như đối với chính mình. Các Ngài đã gây mọi nhân lành, qua khỏi đường sinh tử, được vô lượng công đức của chư Phật. Trí tuệ sáng suốt của các Ngài cũng không thể nghĩ bàn. Các vị Bồ Tát, Ðại sĩ như thế, không thể kể sao cho xiết, cùng một lúc tới dự hội.
Bấy giờ, Ðức Thế Tôn thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng. Tôn giả A Nan thấy vậy, liền từ tòa ngồi đứng dậy, trễ vai áo bên phải, quỳ gối chấp tay, bạch Phật rằng:
"Bạch Ðức Thế Tôn! Hôm nay Ðức Thế Tôn thân căn vui đẹp, thân tướng nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng, như tấm gương trong sạch, sáng suốt trong ngoài, oai dũng rõ rệt, tướng tốt tuyệt vời, chưa từng thấy có. Kính bạch Ðức Ðại Thánh! Lòng con nghĩ rằng: Hôm nay có lẽ Ðức Thế Tôn trụ vào nơi pháp kỳ diệu! Hôm nay Ðức Thế Hùng trụ vào chốn chư Phật trụ! Hôm nay Ðức Thế Nhãn trụ vào hạnh của Ðấng Ðạo Sư! Hôm nay Ðức Thế Anh trụ vào Ðạo Tối Thắng! Hôm nay Ðức Thiên Tôn hành theo đức của Ðức Như Lai! Chư Phật ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai đã cùng một ý nghĩ độ sinh. Phải chăng hôm nay Ðức Như Lai đang tư duy chư Phật tư duy chăng? Vì sao oai thần của Ngài chói sáng như vậy?".
Bấy giờ, Ðức Thế Tôn bảo Ngài A Nan rằng: A Nan! Có phải chư Thiên nhờ ông đến hỏi ta hay tự ông khởi ý hỏi việc đó?
A Nan bạch Phật rằng: Bạch Ðấng Ðại Bi Thế Tôn! Không phải chư Thiên đến nhờ con, chính tự bản thân con thấy biết mà hỏi việc đó.
Phật dạy rằng: “Hay thay! Hay thay! A Nan, những điều ông hỏi thật là sâu xa! Như Lai đem lòng đại bi vô tận, thương xót chúng sinh trong ba cõi, nên mới thị hiện ra đời, khai sáng đạo giáo, để cứu vớt quần sinh, khiến cho họ được nhiều lợi ích chân thật. Như Lai vô lượng ức kiếp khó gặp, khó thấy, cũng như hoa Ưu Ðàm trải qua bao kiếp mới trổ một lần. Nay những điều ông hỏi có lợi ích khai hóa cho tất cả chư Thiên, nhân loại. A Nan! Nên biết, Như Lai là bậc Chính Giác, trí tuệ không thể suy lường thường khuyên dẫn và chế ngự tâm người, không gì ngăn ngại. Như Lai dùng sức một bữa ăn mà thọ mệnh được trăm ngàn vạn kiếp, vô số vô lượng còn hơn ở đây nhiều. Lại nữa, Như Lai thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, khuôn mặt hồng sáng. Vì sao vậy? – Vì thiền định, trí tuệ của Như Lai sáng suốt vô cùng, tất cả các Pháp, Như Lai đều được viên dung vô ngại.
A Nan, hãy nghe cho kỹ, bây giờ ta nói cho ông nghe.
“A Nan bạch rằng: Vâng, con mong muốn được nghe”.
Ðức Phật bảo A Nan rằng: "Về đời xưa kia, cách nay rất lâu xa, không thể tính bàn được là bao nhiêu kiếp, có Ðức Ðĩnh Quang Như Lai thị hiện ra đời, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sinh đều được đạo quả, rồi Ngài mới diệt độ. Thứ đến, có Ð?c Như Lai tên là Quang Viễn, thứ đến tên là Nguyệt Quang, thứ đến tên là Chiên Ðàn Hương, thứ đến tên là Thiện Sơn Vương, thứ đến tên là Tu Di Thiên Quán, thứ đến tên là Tu Di Ðẳng Diệu, thứ đến tên là Nguyệt Sắc, thứ đến tên là Chính Niệm, thứ đến tên là Ly Cấu, thứ đến tên là Vô Trước, thứ đến tên là Long Thiên, thứ đến tên là Dạ Quang, thứ đến tên là An Minh Ðỉnh, thứ đến tên là Bất Ðộng Ðịa, thứ đến tên là Lưu Li Diệu Hoa, thứ đến tên là Lưu Li Kim Sắc, thứ đến tên là Kim Tạng, thứ đến tên là Viêm Quang, thứ đến tên là Viêm Căn, thứ đến tên là Ðịa Chủng, thứ đến tên là Nguyệt Tượng, thứ đến tên là Nhật AÂm, thứ đến tên là Giải Thoát Hoa, thứ đến tên là Trang Nghiêm Quang Minh, thứ đến tên là Hải Giác Thần Thông, thứ đến tên là Thủy Quang, thứ đến tên là Ðại Hương, thứ đến tên là Li Trần Cấu, thứ đến tên là Xả Yếm Ý, thứ đến tên là Bảo Viêm, thứ đến tên là Diệu Ðỉnh, thứ đến tên là Dũng Lập, thứ đến tên là công Ðức Trí Tuệ, thứ đến tên là Tế Nhật Nguyệt Quang, thứ đến tên là Nhật Nguyệt Lưu Li Quang, thì đến tên là Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ đến tên là Tối Thượng Thủ, thứ đến tên là Bồ Ðề Hoa, thứ đến tên là Nguyệt Minh, thứ đến tên là Nhật Quang, thứ đến tên là Hoa Sắc Vương, thứ đến tên là Thủy Nguyệt Quang, thứ đến tên là Trừ Si Minh, thứ đến tên là Ðộ Cái Hạnh, thứ đến tên là Tịnh Tín, thứ đến tên là Thiện Túc, thứ đến tên là Uy Thần, thứ đến tên là Pháp Tuệ, thứ đến tên là Loan AÂm, thứ đến tên là Sư Tử AÂm, thứ đến tên là Long AÂm, thứ đến tên là Xử Thế. Các Ðức Phật trên đây đều đã qua đời hết. Sau đó, lại có Ð?c Phật tên Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Chính Ðẳng Chính Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư; Phật Thế Tôn.
Lúc ấy, có vị Quốc Vương nghe Phật thuyết pháp, sinh lòng vui vẻ, liền phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, lìa cõi nước, bỏ ngôi vua, xuất gia làm Sa Môn, hiệu là Pháp Tạng, tài cao, trí dũng khác đời. Ngài Pháp Tạng đến chỗ Ðức Thế Tự Tại Vương Như Lai, cúi đầu lễ dưới chân Phật, đi quanh theo phía bên phải ba vòng, rồi quỳ gối chấp tay và khen ngợi rằng:
Khuôn mặt hồng sáng chói
Oai đức tỏ vô cùng
Khỏa lấp cả không trung
Mặt trời không sánh nổi
Mặt trăng, ma ni châu
Cũng trở nên mờ tối.
Cao giọng nói chính pháp
Vang khắp cả mười phương
Giới, văn đều tinh tiến
Trí tuệ cũng không lường.
Uy đức dũng mãnh nhất
Trong đời ít ai bằng
Biển pháp của chư Phật
Sâu rộng mầu nhiệm thay!
Ðem trí thật suy xét
Tìm thấy rõ cội nguồn
Vô minh và dục vọng
Thế Tôn lìa tất cả
Bậc Sư Tử Nhân Hùng
Thần đức không thể lường
Trí tuệ rất cao thâm
Công huân thật rộng lớn
Oai tướng sáng hơn trăng
Chấn động cõi Ðại thiên.
Con nguyện khi làm Phật
Lên ngôi Thánh Pháp Vương
Dứt hẳn đường sinh tử
Ðến bên bờ giải thoát.
Sáu phép là Bố thí
Trì giới và Nhẫn nhục
Tinh tiến đến Thiền định
Trí tuệ là bậc nhất.
Con thề khi thành Phật
Làm hết những nguyện này
Tất cả điều sợ hãi
Biến thành niềm an vui.
Giả như có chư Phật
Trăm ngàn muôn ức triệu
Cùng các bậc Ðại Thánh
Nhiều như cát sông Hằng
Cúng dường hết tất cả
Chư Phật Ðại Thánh đó
Cũng không bằng cầu đạo
Kiên tâm không thoái chuyển.
Chí tinh tiến như thế
Oai thần khó lường đuợc.
Con khi được thành Phật
Sửa sang cõi nước này
Như cõi Niết Bàn kia
Thế gian không thể sánh
Chúng sinh trong nước đó
Cũng tốt đẹp lạ thường.
Con nay lòng thương xót
Ðộ thoát cho tất cả
Các chúng sinh sau này
Lòng mong cầu tinh tiến
Ðã đến nước con rồi
Ðều an lành vui vẻ.
May được Phật tin rõ
Tâm thành thật của con
Phát nguyện về Tịnh Ðộ
Nhờ tinh tiến tu hành
Mười phương các Ðức Phật
Trí tuệ rộng thấu suốt
Biết rõ tâm hạnh con
Dù thân có mỏi mòn
Trong mọi nỗi khổ đau
Con vẫn gắng tu hành
Dù chết chẳng ăn năn.
 
Phật bảo A Nan! Tỉ Khưu Pháp Tạng nói lời khen ngợi xong, lại bạch Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn con phát tâm vô thượng chính giác cúi xin Ðức Phật rộng nói kinh pháp cho con nghe, con sẽ tu hành cho chóng thành chính giác, dứt bỏ gốc nguồn khổ não trong đường sinh tử, để giữ lấy cõi nước Phật thanh tịnh trang nghiêm và Pháp tạng mầu nhiệm của chư Phật.
Bấy giờ Ðức Thế Tự Tại Vương bảo Tỉ Khưu Pháp Tạng rằng: Chắc ông đã biết cách tu hành để trang nghiêm cõi Phật rồi chăng? – Tỉ Khưu Pháp Tạng bạch Phật: Nghĩa ấy sâu rộng không thể nghĩ bàn, không phải cảnh giới của con. Kính xin Thế Tôn rộng lòng diễn giải hạnh nguyện về cảnh giới Tịnh Ðộ của chư Phật cho con nghe. Nghe rồi, con sẽ y theo thuyết đó tu hành cho hoàn thành sở nguyện.
Khi ấy, Ðức Phật Thế Tự Tại Vương biết ông là người cao minh có chí nguyện sâu rộng, liền nói Kinh cho Tỉ Khưu Pháp Tạng nghe rằng: Ví như người lấy đấu để lường biển cả, trải qua nhiều kiếp còn có thể lường tới đáy sâu, lấy được của báu. Huống chi, người dốc lòng tinh tiến cầu đạo không mỏi mệt, ắt sẽ có kết quả, nguyện gì mà chẳng được. Ðức Phật Thế Tự Tại Vương lại nói rộng ra hai trăm năm mươi ức cõi nước chư Phật, việc lành dữ của Trời và người, sự tốt xấu của cõi nước ứng hợp với tâm nguyện cho Ngài Tỉ khưu Pháp Tạng nghe. Khi Tỉ Khưu Pháp Tạng nghe Phật nói thấy rõ hết cõi nước trang nghiêm, thanh tịnh, liền khởi sinh ý nguyện thù thắng tuyệt vời; tâm Ngài vắng lặng, chí không vướng mắc, giữ gìn hạnh thanh tịnh, trang nghiêm Phật độ đầy đủ trong năm kiếp mà tất cả thế gian không ai sánh bằng.
A Nan bạch Phật rằng: Ðức Phật ở cõi nước kia thọ được bao nhiêu tuổi? Ðức Phật dạy rằng: Thọ mệnh của Ðức Phật ấy được bốn mươi hai kiếp.
Lúc ấy, Tỉ Khưu Pháp Tạng giữ lấy hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cõi nước mầu nhiệm của chư Phật. Sau khi chứng quả, Ngài đến chỗ Ðức Phật Thế Tự Tại Vương dập đầu lễ dưới chân Phật, đi chung quanh Phật ba vòng rồi đứng lại, chấp tay bạch Phật rằng: Lạy Ðức Thế Tôn! Con đã giữ được hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cõi Phật rồi! Ðức Phật bảo Tỉ Khưu Pháp Tạng rằng: Ông nên biết bây giờ là lúc ông có thể nói ra cho tất cả đại chúng được sinh lòng vui vẻ. Các vị Bồ Tát nghe nói rồi tu hành theo phép ấy, thành tựu vô số các điều nguyện lớn.
Tỉ Khưu Pháp Tạng bạch Phật rằng: Kính xin Ðức Thế Tôn rủ lòng thương xét cho các điều nguyện lớn của con sau đây?
Ðiều nguyện thứ nhất: Nếu con được thành Phật mà trong cõi nước con còn có địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con sau khi thọ chung, còn phải sa vào đường dữ, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba: Nếu con được thành Phật, mà tất cả Trời, Người trong cõi nước con thân không giống màu vàng y, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ tư: Nếu con được thành Phật, mà tất cả Trời, Người trong cõi nước con thân hình còn có kẻ đẹp, người xấu thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ năm: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con không biết rõ túc mệnh của mình và những việc đã xảy ra trong trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ sáu: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không được phép Thiên nhãn, cho đến không thấy rõ trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bảy: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con không được phép Thiên nhĩ, không được nghe và thọ trì hết thảy lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha các Ðức Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ tám: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không được thấy tâm trí kẻ khác, cho đến không biết rõ tâm niệm của hết thảy chúng sinh trong trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ chín: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không được phép thần túc, trong một khoảng một niệm, cho đến không vượt qua được trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, còn có ý niệm tham chấp thân hình, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười một: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, không trụ vào chính định và chứng quả Niết Bàn, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười hai: Nếu con được thành Phật, mà ánh sáng còn có hạn lượng, không soi thấu được trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười ba: Nếu con được thành Phật, mà thọ mệnh còn có hạn lượng, chỉ được trăm ngàn ức na do tha kiếp, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười bốn: Nếu con được thành Phật, mà hàng Thanh Văn trong cõi nước con, còn có thể tính đếm được và chúng sinh trong ba ngàn Ðại thiên thế giới ở trong trăm ngàn kiếp thành bậc Duyên Giác hết, rồi tính đếm mà biết được số đó là bao nhiêu, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười lăm: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, thọ mệnh còn có hạn lượng, trừ phi những bản nguyện riêng của họ, muốn dài, ngắn đều được tự tại. Nếu không được như vậy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười sáu: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, còn có ai nghe thấy tiếng chẳng lành, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười bảy: Nếu con được thành Phật, mà vô lượng chư Phật ở mười phương thế giới không ngợi khen danh hiệu của con, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ mười tám. Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương dốc lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và gièm chê chính pháp.
Ðiều nguyện thứ mười chín: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh mười phương phát tâm Bồ Ðề, tu các công đức, dốc lòng phát nguyện, muốn sinh về cõi nước con, tới khi thọ chung, mà con chẳng cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương nghe danh hiệu của con, để lòng nhớ nghĩ đến nước con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi mốt: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước con, chẳng được đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc Ð?i nhân, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi hai: Nếu con được thành Phật, hết thảy chúng Bồ Tát ở cõi Phật phương khác sinh về cõi nước con, sau đó sẽ tới bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, trừ bản nguyện riêng của mỗi vị tự tại hóa hiện, vì thương xót chúng sinh mà rộng lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát hết thảy, rồi khắp các cõi Phật, tu hạnh Bồ Tát và cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sinh, khiến lập nên đạo Vô Thượng Chính Giác. Chư vị vượt ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập theo hạnh nguyện của Ðức Phổ Hiền. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi ba: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, nương sức thần của Phật đi cúng dường các Ðức Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn, mà không tới được vô số, vô lượng ức na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi bốn: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, ở trước chư Phật, hiện ra công đức, muốn có muôn vàn vật dụng để cúng dường. Nếu không được như ý, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, không diễn thuyết được Nhất Thiết Trí, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi sáu: Nếu con được thành Phật, các Bồ Tát trong cõi nước con, không được thân Kim Cương Na La Diên, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính Giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà Trời, Người trong cõi nước, cùng tất cả muôn vật không có hình sắc tốt đẹp, không thể tính lường, và hết thảy chúng sinh cho đến bậc đã được phép Thiên nhãn, mà không nói được rõ ràng danh số, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, cho đến kẻ có ít công đức nhất, không thấy được ánh sáng muôn mầu của cây Bồ Ðề cao bốn trăm vạn do tuần, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ hai mươi chín: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, thụ trì, đọc tụng, giảng thuyết Kinh pháp, mà không được trí tuệ biện tài, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi: Nếu con được thành Phật, mà trí tuệ biện tài của các Bồ Tát trong cõi nước con còn có hạn lượng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi mốt: Nếu con được thành Phật, thì cõi nước con thanh tịnh, soi thấy tất cả vô lượng, vô số thế giới chư Phật ở mười phương không thể nghĩ bàn, như tấm gương sáng thấy được hình dạng mặt mày của mình. Nếu không được như vậy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi hai: Nếu con được thành Phật, trong cõi nước con, từ mặt đất đến hư không, cung điện, lâu đài, hồ ao, cây cỏ và muôn hoa đều được tạo nên bằng vô lượng của báu hòa lẫn với ngàn thứ hương thơm. Tất cả đều xinh đẹp lạ lùng hơn cả cõi Trời và cõi Người. Hương thơm của muôn vật tỏa ra ngào ngạt khắp mười phương thế giới. Bồ tát ở các nơi ngửi hương thơm ấy đều tu theo hạnh của Phật. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi ba: Nếu con được thành Phật, chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, đều nhờ ánh quang minh của con chạm đến thân họ, khiến thân được nhẹ nhàng hơn cả Trời và Người. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi bốn: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu của con mà không được pháp Vô Sinh Pháp Nhẫn và các môn Thâm tổng trì của bậc Bồ Tát, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà nữ nhân trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con đều vui mừng, phát tâm Bồ Ðề, chán ghét thân gái. Sau khi mệnh chung mà còn phải làm thân nữ nhân nữa, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi sáu: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà Trời và Người trong cõi vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tu hạnh Bồ Tát, được hầu hết Trời và Người kính trọng. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà Trời và Người trong cõi nước con, muốn có y phục, thì y phục tốt đẹp tùy theo tâm niệm của họ tự nhiên hiện ra trên mình họ. Nếu còn phải cắt may, nhuộm, giặt, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ ba mươi chín: Nếu con được thành Phật, mà Trời và Người trong cõi nước con, không được sự hưởng thụ vui sướng bằng vị Tỉ Khưu đã dứt hết mọi phiền não, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật ở mười phương đều được như nguyện. Chẳng hạn, nhìn trong cây báu thấy rõ hết cả, như nhìn vào tấm gương sáng thấy rõ nhân diện. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi mốt: Nếu con được thành Phật, mà các chúng Bồ Tát ở thế giới khác nghe danh hiệu con, từ đó đến khi thành Phật, mà các sắc căn còn thiếu kém, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi hai: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con, đều được chính định giải thoát thanh tịnh; rồi trụ vào chính định đó trong khoảng một ý niệm cúng dường vô lượng chư Phật Thế Tôn chẳng thể nghĩ bàn, mà vẫn không mất chính định. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi ba: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con sau khi mệnh chung, thác sinh vào nhà tôn quý. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi tư: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, trọn đủ công đức. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con đều được Phổ Ð?ng tam muội, rồi trụ vào tam muội đó cho đến khi thành Phật, thường được thấy chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi sáu: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, muốn nghe pháp gì, đều theo chí nguyện mình, tự nhiên được nghe. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới được bậc Bất thoái chuyển, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Ðiều nguyện thứ bốn mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới ngay được ba đức nhẫn: AÂm hưởng nhẫn, Nhu thuần nhẫn và Vô sinh pháp nhẫn. Ðối với các pháp của Phật mà không chứng được bậc Bất thoái chuyển, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Phật bảo A Nan rằng: Khi Pháp Tạng Tỉ Khưu nói xong những lời nguyện đó, liền làm bài kệ khen ngợi rằng:
Con lập nguyện hơn đời
Quyết tới Ðạo Vô thượng
Nguyện này không được toại
Thể chẳng thành